Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật V Thường Niên – Năm A (Mt 5,13-16)
Cập nhật lúc 15:01 06/02/2026
Tin Mừng (Mt 5,13-16) Ông Gio-an, ta đã cho chém đầu, chính ông đã trỗi dậy.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.
14 “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”
=========================
“MUỐI” HÒA TAN
WMTGHH - “Muối mặn đời nhau” – câu hát gợi lên một chân lý sâu xa về tình người, bởi chỉ một chút “mặn” cũng đủ làm cho đời sống thêm đậm đà, tương quan con người thêm ấm để bớt đi giá lạnh và bớt đi cái đau của những lời nói vô cảm. Với hình ảnh muối trong căn bếp của mỗi gia đình, rất nhỏ bé nhưng lại làm nên cả hương vị của bữa ăn. Đức Giêsu đã dùng hình ảnh rất đời thường này để khẳng định vai trò của người môn đệ: “Anh em là muối cho đời” (Mt 5,13). Điều này nói lên căn tính và sứ mạng của mỗi Kitô hữu, đặc biệt là người môn đệ theo Chúa khi được đặt vào giữa thế giới: không đứng ngoài, không tách biệt, nhưng ở trong đời để làm cho đời thêm vị “mặn” của Tin Mừng khi được trở nên “muối” được hòa tan. Muối là gia vị không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của con người, tuy muối nhỏ bé, bình thường, không lộng lẫy và chẳng ai chú ý tới sự hiện diện của nó; không thấy ai trưng bày muối, cũng chẳng có ai giới thiệu muối trong bữa tiệc lớn; đặc biệt xét về giá trị kinh tế, muối chẳng đáng giá bao nhiêu; nhưng nó lại là yếu tố làm dậy nên hương vị của những món ăn. Bởi vị “mặn” là bản chất của muối, chính bản chất ấy làm cho muối từ một hạt muối nhỏ bé, khiêm nhường, nay hiện diện năng động tích cực bằng cách giúp cho các thực phẩm khỏi hư hỏng vì được ướp mặn, các món ăn nhờ muối mà thêm đậm đà, thơm ngon. Muối có đó, nhưng không ai thấy muối, không chỉ vì muối bé nhỏ khiêm nhường, mà vì muối phải tan biến đi mới giúp ích cho đời. Muối ướp vào thịt cá mà không tan đi thì không thể thấm sâu và không giữ cho thịt tươi cá tốt được; đó là cách muối tự hủy, quên mình. Muối sẽ không còn mang dáng vẻ của một hạt muối nữa, như lời Đức Giêsu nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23); và như thánh Phaolô diễn tả cùng một điều là: Đức Kitô đã tự hủy mình ra không (x. Pl 2,7). Đời sống thánh hiến chính là hình ảnh, là con đường họa lại sự hòa tan đó; bởi người sống đời thánh hiến được mời gọi hòa tan ý mình, ra khỏi sự an toàn của chính mình để sống vì Chúa và vì chị em trong những hy sinh nhỏ hàng ngày như: nhịn một lời nói, kiên nhẫn chấp nhận một hiểu lầm, trung thành với các giờ chung. Đặc biệt ba lời khấn chính là hình thức cụ thể của sự “tan ra” khỏi cái tôi. Khó nghèo là chấp nhận không sở hữu, không bám víu, không tìm an toàn nơi của cải hay danh vọng. Khiết tịnh là hiến trọn trái tim cho Thiên Chúa – Đấng là đối tượng duy nhất, để yêu thương mọi người bằng một tình yêu tự do và trong sáng. Vâng phục là từ bỏ ý riêng để tìm thánh ý Chúa trong công việc và trong các mối tương quan, tìm yêu mến và chu toàn mọi trách nhiệm được trao theo thánh ý Chúa. Mỗi lời khấn chính là một cách để người sống đời thánh hiến tan ra và thấm vào đời sống của Giáo Hội. Muối không tự tạo ra món ăn mới, cũng không thay đổi bản chất của món ăn nhưng làm cho món ăn có sẵn trở nên đậm đà và bộc lộ hương vị tiềm ẩn. Giống như mỗi người khi sống trong xã hội không được mời gọi áp đặt quan điểm của mình vào xã hội, cũng không thể xóa bỏ những thực tại có sẵn, nhưng được sai đi, đến, ở lại và sống giữa những con người rất cụ thể, với những yếu đuối, giới hạn và khác biệt, nhưng không phải để phán xét loại trừ mà để yêu thương, nâng đỡ và đồng hành. Muối đã được dùng để ướp mặn cho thịt cá khỏi hư hỏng, hình ảnh phản chiếu sâu sắc thực tại sứ mạng của người môn đệ: việc lội ngược dòng trong lối sống hưởng thụ của xã hội cũng trở nên một lực cản, một sự phản nghịch cho lối sống băng hoại đạo đức của xã hội hiện đại sống đề cao chủ nghĩa cá nhân và hưởng thụ. Đức Giêsu đã luôn cầu nguyện cho các môn đệ khi sống giữa đời: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17,15). Người muốn người môn đệ không sống bằng những lời ba hoa diễn thuyết, không bị cám dỗ bởi việc tìm kiếm danh vọng đề cao bản thân, nhưng bằng một đời sống trung thực, trong sạch, hiền hòa và đầy lòng trắc ẩn, để chính đời sống ấy sẽ âm thầm chất vấn và thanh luyện con người và môi trường xung quanh. Vì khi ta yêu thương thật, tha thứ thật sẽ là một dấu chỉ ngôn sứ giữa một thế giới đầy dối trá, bạo lực và bất công. “Chính anh em là muối cho đời” Đức Giêsu không ví các môn đệ như vàng bạc hay kim cương nhưng lại là “muối” – một thực tại âm thầm, khiêm tốn nhưng thiết yếu, điều này nói lên ý nghĩa cho sự hiện diện của người tu sĩ hiện diện và phục vụ trong âm thầm, khiêm hạ. Như muối không tồn tại cho chính mình nhưng có ý nghĩa khi cộng tác và phục vụ món ăn khác, thì người tu sĩ cũng không được gọi để sống cho riêng mình nhưng để trở nên quà tặng cho cộng đoàn, cho Giáo Hội và cho thế giới. Vì khi “trở nên tất cả cho mọi người” (1Cr 9,22), người tu sĩ dám yêu thương mà không mong đền đáp, dám phục vụ mà không tìm ghi nhận. Mỗi ngày sống vì Chúa để thêm những lời yêu thương đồng cảm trong sự khác biệt, thêm sự tha thứ và kiên nhẫn trong những tổn thương, để từ những điều nhỏ nhặt đó sẽ góp phần giúp đời sống cộng đoàn đậm vị yêu thương, mang hương vị của Tin Mừng. Tuy nhiên Đức Giêsu cũng đưa ra một lời cảnh báo nghiêm khắc: “Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại?” (Mt 5,13) Vậy vị “mặn” đó do đâu mà có? Xét về mặt thiêng liêng, vị mặn ấy xuất phát từ chính Thiên Chúa. Muối nhạt là khi đời sống cầu nguyện nguội lạnh, tình yêu thuở ban đầu bị phai mờ, phục vụ chỉ còn là bổn phận, lúc này người tu sĩ tìm sống vì mình nhiều hơn vì sứ mạng. Khi đó đời sống thánh hiến chỉ còn là hình thức bên ngoài mà bên trong đã mất lửa mến và mất đi sức sống làm chứng cho Tin Mừng. Lời cảnh báo của Chúa Giêsu cũng đánh thức mỗi người tu sĩ: trong tôi có còn giữ được “vị mặn” của Tin Mừng không? Tôi có còn thao thức được nên thánh, thao thức vì Nước Trời không? Tôi có còn để cho Lời Chúa chạm đến và biến đổi tôi mỗi ngày không? Và tôi có còn sống lời giao ước của mình với Thiên Chúa bằng tình yêu hay chỉ bằng thói quen bổn phận? Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu từng nói: “Giữa lòng Hội Thánh, con sẽ là tình yêu.” Câu nói phản chiếu việc người tu sĩ theo Chúa không phải để làm được nhiều việc, nhưng để yêu nhiều, yêu sâu đậm và yêu đến cùng. Vì chính tình yêu và sự tha thứ sẽ làm cho đời thánh hiến có sức lôi cuốn, có khả năng biến đổi và có “vị” ướp đời. Hướng cái nhìn về thế giới vô cảm đầy hỗn tạp giữa thiện và ác, tốt và xấu, công bằng và xảo trá, lời của Đức Giêsu vang lên như một lời mời gọi khẩn thiết. Trở nên “muối” đồng nghĩa với việc người tu sĩ cần sống bình tâm và chọn lựa những điều thiện, điều tốt trong cuộc sống. Giữa những đầy đủ tiện nghi về vật chất, những tiến bộ của khoa học - kĩ thuật thời hiện đại, mỗi người được mời gọi sống với, sống cùng và sống giữa lòng xã hội nhưng không thuộc về, là hòa nhập chứ không hòa tan. Từ đây, để trở nên “muối” hòa tan cho đời bằng chính cuộc đời tự hiến của mình, không phải bằng những việc làm phi thường nhưng sống một đời bình thường một cách phi thường trong tình yêu. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã giúp con hiểu rằng: con được dựng nên để sống cho Chúa và cho mọi người. Cách riêng trong ơn gọi thánh hiến, Chúa mời gọi con trở nên muối cho đời: nhỏ bé, âm thầm nhưng trung tín với sứ mạng. Xin cho con biết hòa tan mỗi ngày trong thánh ý Chúa và trong nhu cầu của tha nhân. Xin đừng để đời sống thánh hiến của con trở nên “nhạt”, nhưng luôn giữ được vị mặn Tin Mừng, để nhờ con, người khác nếm được vị tình yêu, hy vọng và ánh sáng của Chúa. Xin giúp con sống đúng căn tính của mình, được trở nên “môn đệ thừa sai” đích thực và trở nên chứng tá cho sự hiện diện của Chúa trong thế giới hôm nay. Amen.