Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật III Phục Sinh Năm A (Lc 24,13-35)
Cập nhật lúc 08:12 17/04/2026
TIN MỪNG: (24,13-35)
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca
13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. 18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay”. 19 Đức Giê-su hỏi: “Chuyện gì vậy?”. Họ thưa: “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy”. 25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh”. 28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”. Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?”. 33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si môn”. 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.
*********************
YÊU LÀ LẮNG NGHE
WMTGHH- Có một nỗi cô đơn rất lạ trong thế giới hôm nay: con người ở rất gần nhau, nhưng lại không thực sự chạm đến nhau, người ta nói nhiều, trao đổi nhiều, nhưng lại hiếm khi thật sự lắng nghe. Có những câu chuyện được kể đi kể lại, nhưng càng nói lại càng thấy trống rỗng, vì không ai thực sự hiểu điều mình đang mang trong lòng. Hai môn đệ trên đường Emmau cũng đã bước đi như thế. Họ rời Giêsusalem với một trái tim thất vọng, mang theo những ký ức chưa kịp hiểu và một hy vọng tưởng như đã khép lại. Giữa lúc đó Đức Giêsu Phục Sinh đến gần họ, không ồn ào, không vội vàng nhưng âm thầm bước vào câu chuyện của họ. Ngài không bắt đầu bằng việc giải thích nhưng bằng việc ở lại và lắng nghe. Từ đây, một hành trình mới được mở ra - hành trình của những con người được lắng nghe, được chữa lành và dần nhận ra rằng: Tình yêu đích thực luôn bắt đầu từ sự lắng nghe. “Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ” (Lc 24,15). Ngài không chen ngang câu chuyện của họ, cũng không sửa sai ngay lập tức, nhưng ôn tồn và khiêm nhường bắt chuyện với họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” (Lc 24,17). Phải chăng Người không biết câu chuyện họ đang nói với nhau? Không, Người biết hết, nhưng vẫn chọn cách đặt ra câu hỏi cho họ, không phải vì để biết nhưng là để họ được nói, được thổ lộ tâm tư. Thật vĩ đại thay, một Thiên Chúa toàn năng lại chọn cách nghe con người nói. Triết gia Paul Tillich đã từng nói: “Nỗi cô đơn lớn nhất không phải là không có ai bên cạnh, mà là không có ai lắng nghe”. Khi Chúa lắng nghe họ, Ngài trao cho họ một điều quý giá là phẩm giá của người được thấu hiểu. Quả vậy, lắng nghe không chỉ là hành động của đôi tai, mà là hành động của trái tim. Khi được lắng nghe, con người bắt đầu biến đổi. “Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24,32). Ngọn lửa này, được nhen nhóm từ phút giây Chúa lắng nghe họ và nó bùng cháy lên khi Người nói cho họ nghe: “Người giải thích cho họ những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24,27). Họ đã bị thu hút bởi người bạn đồng hành này. Một thứ tình cảm vừa lạ vừa quen đang len lỏi trong từng thớ thịt, từng dòng chảy trong tâm hồn họ, họ muốn người bạn này cùng ở với mình “mời ông ở lại với chúng tôi” (Lc 24,29). Bạn có đọc thấy không, Chúa vui và thấy ấm áp khi học trò của mình đang nhận thấy ánh sáng, đang được bao chùm bởi niềm vui thật khi có sự đồng hành của Thầy. Người sẵn lòng ở lại với họ, lúc này, sự lắng nghe không dừng lại ở việc nghe nữa nhưng là hiện diện. Sự hiện diện đó đủ để “mắt họ mở ra và họ nhận ra Người” (Lc 24,31). Không còn bóng dáng của cô đơn và thất vọng trong hành trình của họ nữa, thay vào đó là ánh sáng chan hòa đầy yêu thương của Chúa đã bao chùm lấy họ. Lòng đầy hân hoan họ cất bước lên đường để tiếp tục hành trình. Hành trình của người quay trở lại để loan báo về Chúa Giêsu - Thầy của mình đã chết và đã sống lại. Yêu là lắng nghe, đó như là một lời mời gọi cho mọi người trong mọi thế hệ. Bởi vì, nhìn ra thế giới hôm nay, quả thật không thiếu những “con đường Emmau” đang hiện hữu trong mỗi con người. Chiến tranh vẫn đang xảy ra, bạo lực vẫn hiện diện trong nhiều hình thức, thiên tai ngày càng khốc liệt, đã để lại bao mất mát và đau thương. Nguyên nhân là từ đâu vậy? Thưa, tất cả những đau khổ và thử thách đó không chỉ là đến từ những xung đột lợi ích hay biến động của tự nhiên, mà còn ở nơi một sự thật sâu xa hơn đó là: con người đang dần đánh mất khả năng lắng nghe nhau. Các quốc gia không còn lắng nghe nhau nên đối thoại bị thay thế bằng vũ khí, bạo lực. Con người không muốn lắng nghe nhau nên khác biệt trở thành chia rẽ. Và quả thật, chính con người cũng không lắng nghe thiên nhiên nên phải gánh chịu những hậu quả khốc liệt. Lời mời gọi hãy lắng nghe không chỉ bằng đôi tai nhưng bằng trái tim như một tiếng còi đang rít lên mạnh mẽ: hãy lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, lắng nghe nỗi đau của các nạn nhân chiến tranh, lắng nghe tiếng thở dài của trái đất. Bạn thân mến, chúng ta cùng sống chậm lại một chút để lấy lại và làm mới lại khả năng “lắng nghe” của mình. Thế giới sẽ không thay đổi ngay lập tức, nhưng Tin Mừng không đòi ta thay đổi cả thế giới, mà mời ta bắt đầu từ chính mình. Một gia đình biết lắng nghe nhau sẽ bớt đi xung đột, một cộng đoàn biết lắng nghe nhau sẽ lớn lên trong hiệp nhất, một con người biết lắng nghe sẽ trở thành khí cụ bình an. “Ngôn ngữ tạo ra sự gần gũi, nhưng chính sự thinh lặng mới tạo nên sự hiệp thông.” (Paul Tillich) Thật thế, có những lúc lời nói không đủ sức chữa lành; chỉ có một trái tim biết lắng nghe mới có thể chạm đến trái tim. Và chính trong sự thinh lặng đầy yêu thương ấy con người mới thực sự gặp được nhau và gặp được Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu như Chúa đã yêu, một tình yêu hiến thân và cho đi bằng sự lắng nghe thật. Lắng nghe Chúa trong thinh lặng và lắng nghe tha nhân bằng trái tim yêu thương. Bởi, tình yêu đích thực luôn bắt đầu từ sự lắng nghe. Amen.
Cây nến nhỏ Cộng đoàn MTG Bách Lộc
*********************
NGƯỜI LỮ HÀNH TRÊN ĐƯỜNG HY VỌNG
Mở đầu lời tựa tập sách “Đường Hy Vọng” của Đức Hồng Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận, ngài viết: “Cha đã đi một quãng đường, hân hoan có, gian khổ có, nhưng vẫn luôn tràn trào hy vọng vì có Chúa và Mẹ Maria bên Cha. Nếu Chúa cho chọn lại, Cha không chọn con đường nào khác”. Đó quả là một tâm hồn thật đẹp, một ý chí, nghị lực phi thường phát xuất từ niềm hy vọng lớn lao Cha mang theo trong trái tim mình. Đối với Cha, có Chúa là có hy vọng, mà có hy vọng thì Cha không còn sợ hãi, lo âu trước sóng gió cuộc đời. Cũng thế, hai người lữ khách được nhắc đến trong bài Tin Mừng Chúa Nhật III Phục Sinh, nhờ có Chúa, có hy vọng mà các ông đã thoát ra khỏi sự bủa vây của bóng tối nghi nan để bước tiếp trên con đường Chúa muốn. Mở đầu trang Tin Mừng của thánh sử Luca, tác giả vẽ lên khung cảnh của một buổi chiều buồn. Đó là lúc khi ngày sắp tàn và đêm tối sắp đến, trên con đường làng Emmau mịt mù, bụi bặm, có hai người lữ khách, được hiểu là hai trong số các môn đệ của Chúa, đang lầm lũi bước đi bên nhau. Mỗi người một dáng vẻ, một suy nghĩ, nhưng lại mang cùng mẫu số chung là nỗi thất vọng chán chường. Điều này cũng không hề khó hiểu bởi trước đây họ từng đặt rất nhiều kỳ vọng nơi Chúa. Họ hãnh diện biết bao khi được đi theo Ngài, Đấng giảng dạy có quyền uy và làm nhiều phép lạ. Họ chắc mẩm hai năm rõ mười Đức Giê-su chính là Đấng Mêsia mà lòng họ mong đợi. Thế nhưng, cái chết của Chúa đã biến tất cả trở thành nỗi thất vọng, cay đắng. Thầy chết thì lòng họ cũng chết theo luôn; mọi hy vọng bị dập tắt và chôn chặt trong mồ. Chẳng còn ai để tin tưởng, cậy nhờ; trống rỗng, hổ thẹn ngập tràn trong tâm trí. Trước mắt họ chỉ toàn màu đen tối bao trùm; họ nặng nề lê bước trên con đường xa xôi, lạnh vắng để trở về Emmau, về với nơi mà dường như chính lòng họ cũng chẳng hề muốn tới. Đúng lúc ấy, khi mà niềm hy vọng của con người lịm tắt thì niềm hy vọng của Thiên Chúa lại bắt đầu chiếu sáng; khi con người đã hoàn toàn bất lực, buông tay thì Thiên Chúa lại đưa tay ra để biến đổi đêm tối thành bình minh, biến nỗi buồn thành niềm vui, hạnh phúc. Sự Phục Sinh của Chúa đã khiến cho tâm hồn hai người lữ khách được sống lại; chẳng còn sầu đau, u uất hay hoang mang, lo lắng nhưng hân hoan, phấn khởi lạ thường. “Họ mới bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Luca 24,32). Và quả thực, chẳng phải điều gì khác nhưng chính nhờ có Chúa, nhờ Lời của Người, nhờ dấu chỉ bẻ bánh Người thực hiện nơi Bí tích Thánh Thể mà bức tường ngăn cách đã được mở ra. Bao khát khao, mong mỏi, đợi chờ nay không chỉ còn là hy vọng nữa nhưng đã biến thành hiện thực ngay trong giây phút các ông gặp lại Chúa, gặp lại chính niềm hy vọng của đời mình. Ngập tràn trong hạnh phúc, “họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem” (Luca 24,33). Trời đã nhá nhem tối nhưng lòng họ sáng lên. Dẫu đôi chân đã mỏi mệt rã rời vẫn bước nhanh, sải rộng, lòng hướng về tương lai và trào dâng một niềm hy vọng mới. Nhìn vào lịch sử Giáo hội, bên cạnh rất nhiều chứng nhân hy vọng là các vị Thánh, các nhà truyền giáo hay các tu sĩ nam nữ khắp nơi thì Đức Hồng Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận được kể là tấm gương tiêu biểu trong thời đại chúng ta. Ngài đã sống thật hạnh phúc khi biết lấp đầy mỗi khoảnh khắc đời mình bằng niềm hy vọng. Đúng như điều mà Ngài luôn nhắn nhủ: “Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ Thánh. Đường Hy Vọng do mỗi chấm hy vọng” (ĐHV 978). Cho nên, ngay cả khi bị giam hãm, tù đày suốt mười ba năm trời ròng rã, Ngài cũng chẳng hề nao núng, bi lụy; trái lại, vẫn hiên ngang, vững vàng, lấy Chúa là nguồn sống, nguồn hy vọng để can đảm tiến lên, lao mình về phía trước. Tuy nhiên, xã hội hôm nay vẫn còn biết bao những cảnh đời bất hạnh, những con người đang từng giây, từng phút phải chiến đấu, chống chọi với những nỗi cô đơn, tuyệt vọng khi không tìm thấy ý nghĩa cuộc đời. Chiến tranh, bệnh tật, nghèo đói hay những hận thù, ghen ghét, bất công, thậm chí là cả những xung đột, tranh giành, cấu xé nhau giữa những con người cùng chung huyết tộc, tất cả đã góp phần đẩy con người ta vào bước đường cùng, khiến họ trở nên tê liệt, không còn nhạy bén trước sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình. Phần con, dõi theo chân hai môn đệ trên đoạn đường trở về làng Emmau năm ấy, con thấy mình cũng phần nào mang nỗi niềm giống họ. Nếu nơi họ là sự chán nản, hoang mang, tuyệt vọng vì nỗi đau mất Thầy quá lớn thì đối với bản thân con, đôi khi chỉ vì một chút khó khăn, thất bại hay những hiểu lầm, trái ý trong đời sống cộng đoàn khiến con chao đảo, mất phương hướng. Con loay hoay với những suy nghĩ kiểu trần gian thay vì cầu nguyện để biết ý Chúa. Con hành động theo cảm tính tự nhiên thay vì để Chúa hướng dẫn, soi đường. Để giờ đây, khi nhìn lại đời mình dưới ánh sáng Lời Chúa, con xác tín rằng Chúa luôn ở bên con, hiện diện trong con chẳng khác gì như một phần máu thịt. Đến với Ngài, con có thể bị tước đoạt tất cả nhưng sẽ không bao giờ mất đi niềm hy vọng. Có Chúa, đoạn đường con đi dù xa xôi, cách trở đến đâu cũng chẳng thể khiến lòng con trở nên nặng nề, tê tái, mà vắng Chúa thì dù có cố gắng đến mấy con cũng chẳng bao giờ tìm thấy được hạnh phúc, bình an. Nghĩ như thế, con biết mình không còn ý định quay trở về Emmau thêm một lần nào nữa, nhưng con muốn ở lại Giê-ru-sa-lem, nơi thành đô của Chúa, để được sống với Ngài và cùng Ngài viết tiếp nên bài ca hy vọng. Lạy Chúa! Con tạ ơn Chúa vì tình yêu và sự quan phòng kỳ diệu mà Chúa dành cho con trong suốt chặng đường qua. Dù bao lần con ngập chìm trong bi quan, thất vọng, con chăm chăm cứ nhìn mãi vào một chấm đen mờ mà không hề thấy được có muôn vàn ngôi sao thật sáng cũng được Chúa vẽ lên trên bức tranh đời mình, hay bao lần con phó mặc, buông xuôi, muốn quay đầu đổi hướng để không phải đối diện với những khó khăn đang xảy đến thì chính sự xuất hiện của Chúa đã khiến cuộc đời con trở nên thật ý nghĩa. Xin cho con luôn cảm nghiệm thật sâu sự hiện diện của Chúa, sự hiện diện rất thực của Đấng Phục Sinh trong cuộc đời con. Xin khơi lên trong trái tim con ngọn lửa mến yêu, đổ tràn trên con nguồn suối hy vọng để mỗi ngày con thêm can đảm, tự tin, trung thành bước theo Chúa. Và giờ đây, nếu như được chọn lại, con vẫn muốn chọn Đường Hy Vọng, chọn con đường mang dấu chân của Chúa, để mỗi bước con đi là một bước tiến lên cho con được chạm vào cùng đích của đời mình. Amen.
Maria Thu Tập sinh
*********************
ĐẾN VỚI THA NHÂN NHƯ ĐẤNG PHỤC SINH
Những bước chân mệt mỏi, rã rời của hai người môn đệ trên hành trình về quê, những nỗi thất vọng ê chề của hai tâm hồn buồn bã đang lê bước trên con đường về Emmau. Bao nhiêu nỗi buồn, bao nhiêu nỗi thất vọng cùng những mệt mỏi, ưu tư đang đè nặng trên đôi chân hai người môn đệ ấy. Nhưng khi Đức Giêsu Phục Sinh bước tới, một ánh sáng đã nhẹ nhàng chiếu rọi vào tâm hồn hai ông để rồi chính các ông đã cảm nhận một cách cá vị và sâu sắc rằng: “Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao”. Bước theo Thầy Giêsu, hai môn đệ mang trong mình niềm hy vọng lớn lao rằng chính Ngài sẽ là Đấng đứng lên phất cờ khởi nghĩa để cứu chuộc Israel, giành lại độc lập và xây dựng hòa bình vững chắc cho dân tộc. Niềm tin và hy vọng ấy dường như đã hoàn toàn bị dập tắt khi Đức Giêsu bị kết án tử hình. Đối với họ, thập giá là một thất bại, là một sự nhục nhã ê chề. Từng lời nói của các ông biểu lộ một niềm hy vọng dường như không thể cứu vãn: “Trước đây chúng tôi vẫn hy vọng rằng... còn chính Người thì không thấy” (Lc 24,21-24). Và bây giờ, hai môn đệ đang trở về Emmau với cuộc sống cũ như để trốn chạy thực tại đau thương, trở về với con đường cũ, chấp nhận buông xuôi và quên đi giấc mơ là theo Thầy Giêsu. Từng bước chân mệt mỏi đang lê bước trên con đường mòn. Những cái nóng rát của thời tiết nơi sa mạc khô cằn càng làm cho lòng họ trở nên não nề, mệt mỏi. Đường về Emmau vốn quen thuộc mà sao hôm nay lại trở nên dài và buồn chán với hai ông đến vậy! Trên hành trình đầy đau thương ấy, Đức Giêsu Phục Sinh đang tiến đến gần và cùng bước đi với hai ông như một người bạn tri kỷ. Gặp được người đồng hành, an ủi, hai ông sẵn sàng mở lòng ra để chia sẻ tất cả những vết thương đang rỉ máu trong mình. Các ông nói đúng về Chúa nhưng không có lửa: “Người là một vị ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như trong lời nói... thế mà Người lại bị kết án tử hình và bị đóng đinh vào thập giá...” (Lc 24,19-20). Tuy có một chút ánh sáng Phục Sinh lóe lên trong tâm hồn hai ông nhưng không đủ để khơi dậy đức tin, ánh sáng ấy nhanh chóng vụt tắt rồi lại trở về với thực tại đau thương của tâm hồn. Hai ông đã nói trong lúc tuyệt vọng và nói khi Chúa đã chết trong lòng mình rồi. Đức Giêsu chỉ im lặng lắng nghe, Ngài nghe rõ từng lời một trong sự khiêm tốn. Ngài từ từ mở trí cho hai ông: “Điều đó chẳng phải đã được nói trong Kinh Thánh sao!”. Chúa Giêsu không nặng lời quở trách nhưng Người chấp nhận đi vào cuộc đời họ với bao nỗi lo lắng, những điều bận tâm và cả những nỗi thất vọng chán chường. Chúa Phục Sinh nhẹ nhàng chạm vào lòng họ với một niềm cảm thông sâu sắc. Chúa khẽ đi vào cuộc đời và vào trái tim họ để làm cho con tim ấm lại, cho những nỗi đau được dịu bớt đi. Từng cử chỉ nhẹ nhàng, từng lời nói cảm thông, từng lời giải thích chân thật và sâu sắc của Chúa Giêsu đang len lỏi vào con tim đầy tổn thương của hai môn đệ. Họ như được tiếp thêm sức mạnh, bước chân họ như nhẹ nhàng hơn vì trút được gánh lo. Thiên Chúa đã đến đúng lúc. Ngài không đến sớm cũng không đến muộn. Ngài bước đến gần họ, cùng đi và cùng trò chuyện với họ một cách thân thương, gần gũi. Chính trong những lúc đau thương, tuyệt vọng nhất, Chúa vẫn đang nhẹ nhàng bước tới cho dù mắt hai ông còn bị che khuất nhưng trong tim họ và nơi tâm hồn họ có gì đó đang cháy lên mạnh mẽ. Gặp được Chúa Giêsu và nhận ra Người, hai môn đệ lập tức đứng dậy quay trở lại Giêrusalem mặc dù trời đã xế chiều. Đức tin, lòng mến được khơi lên mạnh mẽ nhờ ánh sáng Phục Sinh của Đức Kitô không cho phép họ chần chừ. Sau một ngày lê bước mệt mỏi nhưng nay vẫn hối hả trở về trong niềm hân hoan, vui sướng. Những nỗi buồn, sợ hãi và đau thương thường làm cho con người dễ rơi vào tình trạng khép kín, dằn vặt và đóng cửa trái tim. Thế nhưng, ta không thể tự mình thoát ra được nếu không có ơn Chúa và ta sẽ thật khó khăn khi không có ai bên cạnh để đồng hành, an ủi và đỡ nâng. Thiên Chúa vẫn đang đi bước trước, Người nhẹ nhàng bước đến bên ta, lắng nghe, thấu hiểu và chữa lành tâm hồn ta bằng trái tim đầy yêu thương của Ngài. Thiên Chúa gửi đến bên ta những người chị em để an ủi, chia sẻ và gánh đỡ phần đau khổ của ta. Người đồng hành với ta qua những người thân yêu, qua chính những người ta sống và gặp gỡ hằng ngày. Thử hỏi rằng, tôi có đủ khiêm tốn để lắng nghe và để Chúa chạm đến trái tim đang rỉ máu bởi những tổn thương, đổ vỡ của tôi không? Tôi có đủ tin tưởng mở lòng ra để Người đi vào băng bó và chữa lành những vết thương sâu trong tâm hồn và trái tim tôi không? Là một người nữ tu Mến Thánh Giá, mỗi người chúng ta được mời gọi tham dự vào tinh thần trung gian của Đức Giêsu Kitô, và tiếp nối sứ mạng cứu độ của Người bằng việc chuyển cầu nơi nguyện đường và trong cuộc sống. Đức cố Giáo hoàng Phaolô VI đã để lại một câu nói nổi tiếng cho mỗi người chúng ta suy gẫm: “Người thời nay cần chứng nhân hơn thầy dạy”. Thật vậy, chúng ta không thể chỉ đứng giảng mà không biết cúi xuống để lắng nghe. Ta cũng không thể chỉ biết đứng xa xa mà lặng nhìn tha nhân đang gục ngã trong đau đớn và nước mắt nhưng cần bước đến, ủi an và nâng đỡ họ. Và ta cũng không thể chỉ đứng ngoài nhưng cần phải đi vào cuộc đời những con người khổ đau, đi vào trái tim của những tâm hồn chai đá để thấu cảm, để yêu và để dẫn họ đến với Chúa là vị lương y từ mẫu... Sứ mạng của người nữ tu thật cao cả và đáng mến nhưng liệu rằng tôi đã học được nơi Đấng Phục Sinh tinh thần phục vụ và trái tim đầy xót thương của Người chưa? Lạy Chúa, những bước chân mệt mỏi của hai người môn đệ trên đường Emmau xưa có thể cũng đang là những bước chân của chúng con hôm nay. Trái tim chúng con có những lúc cũng đã từng run lên trong đau đớn, có những lúc cũng đã từng rỉ máu vì tuột mất niềm tin và hy vọng. Cuộc sống chúng con hôm nay vẫn đầy những tâm hồn tan nát, những khó khăn rình rập, những đắng cay ê chề của những thất bại và cả những thách đố bởi những hào nhoáng của thành công, của tiện nghi, vật chất... Đôi mắt chúng con có khi đã vô tình bị che khuất bởi những cảm xúc quá đau thương hay thậm chí bởi những điều phù phiếm nơi danh vọng, của cải, địa vị... Dường như nhiều lúc chúng con quên đi bổn phận của mình nơi tha nhân, thiếu đi một cái nhìn yêu thương, thiếu một lời hỏi thăm hay một lời an ủi dành cho chị em. Lời bài hát “Vua của các vua” đáng để mỗi người chúng con suy gẫm: “Khi con gục ngã, Ngài không quay đi, khi con im lặng, Ngài vẫn thấu hiểu. Không ai quá tội lỗi để không được yêu, không ai quá lạc đường để không thể trở về... Từ hôm nay con xin bước theo, không bằng lời nói nhưng bằng đời sống. Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem ánh sáng vào những tâm hồn khổ đau... Ngài là Vua của các vua, không cần ngai vàng, chỉ cần trái tim con biết yêu, như Ngài đã yêu”. Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết yêu, biết sống và biết bước đến tha nhân như Ngài. Amen.