Thứ tư, 07/10/2026

Niềm Vui Sống Giữa Bản Làng H’mông

Cập nhật lúc 07:05 07/10/2026

WMTGHH – Đã nhiều năm trôi qua, nhưng mỗi khi nhớ về những bản làng H’Mông, trong tôi vẫn vẹn nguyên biết bao kỷ niệm. Điều đọng lại sâu sắc nhất không phải là những khó khăn của núi rừng, mà là những con người mộc mạc và tình Chúa tôi cảm nhận được nơi họ.
Năm 2017, tôi được Hội dòng sai đi phục vụ người dân tộc H’Mông tại vùng Sa Pa, một vùng đất giá lạnh. Sau một thời gian sống, học hỏi và phục vụ bà con nơi đây, tôi được Bề trên sai đến vùng Sông Mã, nơi nhu cầu truyền giáo vẫn còn rất khẩn thiết. Sông Mã là một vùng đất xa xôi, với nhiều bản làng còn gặp không ít khó khăn. Càng sống gần gũi với bà con, tôi càng cảm nghiệm rõ tình yêu Thiên Chúa vẫn âm thầm hiện diện và hoạt động trong cuộc sống của mỗi người.
Những người H'Mông, từ già đến trẻ, nam cũng như nữ, đều là những con người chân chất, đơn sơ, thật thà và quảng đại. Những đức tính ấy chẳng phải là hình ảnh của một Đức Giêsu gần gũi và yêu thương mà họ đang mang trong mình sao? Sống và phục vụ giữa bản làng, tôi có cơ hội hiểu hơn về cuộc sống của bà con qua những gia đình mình gặp, qua nơi họ ở và những mảnh nương rẫy nơi họ ngày ngày lao động.
Một trong những khó khăn lớn đối với bà con nơi đây là đường sá đi lại. Hầu hết chỉ là những con đường mòn ven sườn đồi núi, vừa xa xôi vừa hiểm trở. Có những khi trời mưa, đường dốc trơn trượt, đến cả những “tay lái cừ” như người H'Mông cũng không thể đi được. Chúng tôi thường xuyên phải đi bộ nhiều giờ đồng hồ mới có thể đến nơi mục vụ. Nhiều lúc tôi cảm thấy đôi chân rã rời, không muốn bước tiếp, không muốn leo thêm những con dốc nữa… Nhưng nghĩ đến biết bao con người đang mong mỏi, chờ đợi, tôi lại cảm thấy có một động lực thúc đẩy mình tiến bước. Quả thật, Thiên Chúa đã ban sức mạnh cho chúng tôi, và chính những con người H'Mông nơi đây cũng tiếp thêm nghị lực cho chúng tôi. Sau những bước chân mệt mỏi, có khi trượt ngã trên đường, tôi lại đứng lên để đi tiếp. Có những lúc tôi tưởng chừng như đã gặp nguy hiểm đến tính mạng khi phải vượt qua những dòng suối chảy xiết, dữ dội hay những cây cầu ọp ẹp mà chẳng mấy ai dám đi qua… Thế mà Thiên Chúa vẫn gìn giữ để tôi có thể đến nơi bình an.
Nhìn những ánh mắt, những nụ cười và niềm vui của họ khi được gặp lại chúng tôi sau bao ngày mong chờ, tôi không thể giấu được cảm xúc và những giọt nước mắt vì vui sướng, hạnh phúc và yêu thương. Tôi có dịp đến thăm từng gia đình nơi bản làng tôi đang phục vụ cũng như những bản làng xung quanh: từ những gia đình Công giáo, không Công giáo, Tin Lành, đến những người đau yếu hay khỏe mạnh. Qua từng cuộc gặp gỡ, tôi dần hiểu hơn về cuộc sống, những vất vả và cả những vẻ đẹp âm thầm nơi con người H’Mông.
Nghề sinh sống chủ yếu của họ là làm nương, trồng lúa, ngô, khoai, sắn… nhưng thời tiết không phải lúc nào cũng thuận lợi, nên thu nhập còn rất hạn chế so với những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Nhà cửa còn đơn sơ, bữa ăn còn thiếu thốn… nhưng tôi lại cảm nhận nơi họ một cuộc sống thật đạm bạc và bình an. Những bữa cơm họ dọn cho chúng tôi rất giản dị: có cơm, có nước trắng thay cho canh, có muối ớt thay cho thức ăn. Vậy mà vừa ăn, tôi vừa ngẫm nghĩ và cảm thấy thật ngon miệng. Càng cảm nhận, tôi càng nhận ra vị ngọt của tình thương, vị ngon của tấm lòng chân chất và tình người. Không có những món ăn cao sang, mỹ vị, nhưng những bữa cơm ấy lại chan chứa hương vị của sự sẻ chia và yêu thương. Có những gia đình, chỉ nhìn qua hoàn cảnh sống, tôi không thể hình dung họ sẽ ăn gì, mặc gì và sống như thế nào qua ngày. Nhưng rồi trong giây phút ấy, tôi lại cảm nhận được sự huyền nhiệm của tình yêu quan phòng: Thiên Chúa vẫn luôn chăm sóc và nuôi dưỡng họ không ngừng. Một cuộc sống còn nhiều khó khăn, vất vả, nhưng họ vẫn vô tư, tươi cười và hồn nhiên. Họ không quá lo lắng, không bon chen, không ganh đua; trái lại, họ sống đoàn kết, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau.
Đã bao lần tôi ao ước được đến phục vụ những con người nghèo khổ, ở những vùng đất khó khăn, thiếu thốn… Và rồi Chúa đã an bài. Sau khi mãn khóa thần học, ước mơ ấy đã trở thành hiện thực qua Bài Sai của Hội dòng. Tôi được Hội dòng tạo điều kiện để có thời gian học tiếng H'Mông. Dù thời gian học chưa nhiều, tôi cũng có thể giao tiếp những điều cơ bản trong cuộc sống. Chính việc học tiếng giúp tôi bước gần hơn vào đời sống của bà con. Họ rất vui khi tôi có thể nói tiếng của họ, còn tôi cũng học được nhiều kinh nghiệm quý giá từ môi trường thực tế nơi đây.
Điều làm tôi cảm động là dù khác nhau về hoàn cảnh, tôn giáo hay nếp sống, chúng tôi vẫn có thể trở nên gần gũi với nhau. Dường như có một thứ ngôn ngữ vượt trên mọi ngôn ngữ, đó là ngôn ngữ của tình yêu. Chính ngôn ngữ ấy giúp chúng tôi hiểu nhau hơn, cảm nhận sự thân thương và nhận ra rằng chúng tôi thực sự là anh em cùng một Cha trên trời. Ở với họ, tôi chưa bao giờ cảm thấy chán nản. Tôi thực sự yêu mến những con người và cuộc sống nơi đây. Tôi nhận ra một Đức Giêsu đang ẩn mình nơi họ, một Đức Giêsu hiện diện trong những thiếu thốn, thiệt thòi, khó khăn và nhọc nhằn của người H'Mông. Họ không có nhiều vật chất để trao tặng tôi, nhưng lại cho tôi những điều quý giá hơn rất nhiều: tình yêu thương, sự chân thành, lòng đơn sơ và sự thật thà.
Có những hôm chúng tôi dùng cơm trưa với họ, “phòng ăn” chỉ là một góc nhỏ bên cạnh chuồng trâu; chiếc muôi dùng để múc cơm cũng được dùng để múc cám lợn. Khi đi nương, họ ăn cơm bằng tay và đặt cơm trên lá chuối thay vì dùng bát. Những điều ấy đối với tôi không còn xa lạ. Tôi đón nhận chúng một cách tự nhiên, bởi tôi muốn được hiện diện thật gần với cuộc sống của họ.
Tôi yêu quý những con người nhỏ bé ấy. Ở với họ, tôi cùng làm việc, cùng đi trồng ngô, trồng lúa, đi lấy củi… Buổi tối, chúng tôi lại quây quần bên Chúa để đọc kinh.
 
Tôi thương họ vì cuộc sống còn nhiều thiếu thốn và họ phải chịu nhiều thiệt thòi. Đặc biệt, các em thanh thiếu niên có rất ít cơ hội để học hỏi, giao tiếp và tiếp cận những kiến thức cần thiết về văn hóa, xã hội và kỹ năng sống. Tôi luôn trăn trở và bắt đầu cố gắng xin sự giúp đỡ của một số ân nhân để có thể quy tụ các em, dạy về nhân bản, giáo lý, kỹ năng sống, chữ H'Mông cũng như giúp các em hiểu hơn về văn hóa của dân tộc mình. Có nhiều em biết nói nhưng chưa biết đọc và viết chữ của chính dân tộc mình. Các thiếu nữ đến tuổi dậy thì cũng chưa hiểu rõ những thay đổi tâm sinh lý của bản thân, chưa biết cách chăm sóc, bảo vệ và giữ gìn vệ sinh. Ngay cả việc sử dụng nhà vệ sinh tự hoại hay nhà tắm cũng là điều xa lạ đối với các em, bởi từ trước đến nay các em chưa có cơ hội tiếp cận những điều đó. Cuộc sống của các em gần như gắn liền với thiên nhiên, với rừng núi và những điều giản dị.
Trở lại với lớp học, vì nhà các em cách xa nơi quy tụ, nhiều em phải đi bộ hàng giờ đồng hồ trên những con đường xa xôi, hiểm trở. Vì thế, chúng tôi tổ chức cho các em ăn trưa tại lớp. Buổi chiều sau giờ học, cha mẹ đến đón hoặc các em tự về nhà. Tinh thần học tập của các em thật đáng quý. Được các dì dạy bảo, các em luôn chăm chỉ và rất hứng thú. Về phần chúng tôi, dù nhiều khi cũng thấm mệt, nhưng trong lòng lại cảm thấy vui và hạnh phúc.
Mỗi khi dạy học cho các em, tôi thường nhớ đến lời của cha cố Pio Ngô Phúc Hậu: “Không thể diệt được nghèo nếu không diệt dốt”. Quả thật, việc trang bị cho các em hành trang tri thức ngay từ hôm nay là điều rất cần thiết. Có thêm nhiều thế hệ được học hành, có thêm sự hiểu biết và ý thức, tôi hy vọng một ngày mai cuộc sống nơi bản làng sẽ có những đổi thay tốt đẹp hơn. Tôi vẫn thầm nghĩ: Những việc cần làm thì bao la, còn khả năng của mình lại quá nhỏ bé, chẳng khác nào một hạt muối bỏ vào biển lớn. Nhưng tôi sẽ cố gắng trở thành hạt muối hòa vào lòng biển, còn đại dương là phần của Chúa. Vì thế, điều gì có thể làm được cho các em, trong khả năng của mình và trong giây phút hiện tại, tôi sẽ cố gắng thực hiện.
Cuộc sống của người H’Mông nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn. Trong hành trình phục vụ, tôi cũng gặp được một số ân nhân với tấm lòng quảng đại, sẵn sàng chung tay giúp đỡ. Tuy nhiên, những sự trợ giúp ấy vẫn chưa thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thiết yếu của bà con, đặc biệt là điều kiện sinh hoạt và cơ hội học tập của các em nhỏ. Vì thế, tôi vẫn luôn cầu nguyện và mong có thêm nhiều người quan tâm, đồng hành cùng những nhu cầu cấp thiết nơi đây. Tôi vẫn ấp ủ ước mong có những cây cầu được xây dựng bắc qua các con suối để bà con đi lại thuận tiện và an toàn hơn; có một ngôi nhà lưu trú để các em có thêm cơ hội học tập, phát triển bản thân; và những đoạn đường khó đi, nguy hiểm được sửa chữa để hành trình của bà con bớt nhọc nhằn hơn.
Sống và phục vụ đồng bào dân tộc nơi vùng đất xa xôi này, tôi nhận ra mình đã học được nhiều điều từ họ. Có những bài học không đến từ sách vở, nhưng được trao qua những cuộc gặp gỡ, qua công việc hằng ngày và qua những giờ phút cùng nhau sống giữa bản làng. Tôi từng nghĩ mình đến đây để phục vụ, để trao đi những gì mình có thể. Nhưng càng sống giữa bà con, tôi càng nhận ra mình cũng là người được đón nhận. Chính họ đã giúp tôi biết trân trọng những điều nhỏ bé, biết vui với những gì mình có, biết mở lòng với người khác và biết phó thác nhiều hơn nơi Thiên Chúa.
Có lẽ, đó chính là niềm vui tôi nhận được giữa những bản làng xa xôi: một niềm vui không đến từ sự đủ đầy, nhưng lớn lên từ tình người và từ sự hiện diện âm thầm của Thiên Chúa trong cuộc sống mỗi ngày.
Mab Liab
Thông tin khác:
Kính Mừng Mẹ Mân Côi | Sáng Tác: Dấu Chân | Bài Mẫu Dâng Chuỗi
Thiết kế web - Thiet ke website: OnIP™ - www.onip.vn - mCMS.
Origin site: www.mtghunghoa.org!
log